Những sự thật ít người biết về sâu răng
Hầu hết món ăn nhẹ, ngay cả khi không đường, vẫn có thể khiến bạn bị sâu răng.
Theo nha sĩ Hồ Hán Quân, bác sĩ tại phòng khám nha ở Cửu Long (Hong Kong, Trung Quốc), một số bệnh nhân bị sâu răng, thậm chí răng bị hoại tử nhưng vẫn không có triệu chứng đau đớn.

Phần lớn chúng ta bị sâu răng do ảnh hưởng của cách ăn uống. (Ảnh: Pexesl).
Tình trạng của mỗi người mỗi khác, có người chỉ cảm thấy ê buốt khi uống nước lạnh hoặc ăn đồ ngọt. Trong khi đó, có người chỉ bắt đầu cảm thấy đau ở giai đoạn muộn của sâu răng.
Vì vậy, một số bệnh nhân gặp vấn đề răng miệng do không cảm thấy đau đã trì hoãn điều trị cho đến khi nướu chảy mủ hoặc mặt sưng tấy. Lúc này, tình trạng nhiễm trùng đã lan rộng, ngà răng đã bị tổn thương nặng nên chỉ có thể nhổ bỏ răng, và bỏ lỡ cơ hội trám răng hoặc cứu tủy răng.
Tuy nhiên, thực tế nếu răng đã ở giai đoạn sâu răng, việc điều trị và phục hồi thành công không đơn giản.
Sâu răng vẫn tái phát sau khi trám răng
Nha sĩ Hồ Hán Quân cho biết nếu bỏ bê chăm sóc răng miệng và có thói quen ăn uống không lành mạnh, răng trám cũng sẽ bị sâu răng tái phát.
Mặc dù vi khuẩn không thể ăn mòn vật liệu trám, chúng có thể hình thành sâu răng trở lại ở điểm nối giữa răng thật và miếng trám. Vì vậy, chúng ta không nên xem nhẹ việc chăm sóc răng sau khi trám răng sâu.
Ngoài ra, nếu lỗ sâu quá nặng, việc trám răng có thể cũng không cứu được chiếc răng. Nếu dây thần kinh răng bị viêm quá nhiều, bạn sẽ cảm thấy đau sau khi trám răng. Cơn đau này có thể không xuất hiện ngay sau khi trám xong hoặc có thể xuất hiện sau một thời gian.
Nếu điều này xảy ra, bạn phải điều trị tủy răng. Răng bị hư tủy dễ bị tổn hại, do đó, bạn cần bọc răng sứ để bảo vệ răng. Trong trường hợp bệnh nhân bị sâu răng nặng, họ phải nhổ bỏ chiếc răng bị sâu để tránh viêm nhiễm.

Theo nha sĩ, việc hạn chế tần suất ăn đồ ngọt quan trọng hơn việc hạn chế lượng đồ ngọt đưa vào cơ thể. (Ảnh: Pexels).
Ăn vặt không đường vẫn sâu răng
Hầu hết món ăn nhẹ, ngay cả khi không đường, đều chứa carbohydrate, chẳng hạn khoai tây chiên, bánh quy, bánh mì, mì ăn liền...
Hầu hết loại carbohydrate đều có mức độ nguy cơ sâu răng khác nhau, sau khi vi khuẩn tiêu hóa sẽ giải phóng một ít axit và làm hỏng răng. Trong số các carbohydrate, thành phần có nhiều khả năng gây sâu răng là saccarose và glucose.
Cách ăn uống dễ gây sâu răng
Nếu ăn quá nhiều lần, kể cả đồ ăn nhẹ và đồ uống có đường, miệng của bạn sẽ thường xuyên tiếp xúc với carbohydrate. Chế độ ăn uống như vậy khiến vi khuẩn gây sâu răng ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.
Đồ ăn nhẹ hoặc đồ ngọt không tốt cho răng nhưng không phải chúng ta không được ăn chúng. Theo nha sĩ, để kiểm soát tình trạng sâu răng, việc hạn chế tần suất ăn đồ ngọt quan trọng hơn việc hạn chế lượng đồ ngọt đưa vào cơ thể.
Vì vậy, nếu ăn tráng miệng, chúng ta có thể ăn ngay sau bữa ăn chính. Thông thường, tổng số bữa chính và phụ được khuyến nghị mỗi ngày là 3 lần và không quá 4 lần.
Giải pháp chống ngứa khi bị muỗi đốt cực đơn giản
Vết ngứa do muỗi đốt thực sự rất khó chịu và nếu bạn cứ tiếp tục gãi thì vết đốt thậm chí có thể bị xước và tăng nguy cơ nhiễm trùng.
Bác sĩ Mỹ tiết lộ 2 loại rau có thể kích hoạt gene trường thọ, "cải lão hoàn đồng", giúp hạ đường huyết, giảm cân
2 loại rau này được người dân vùng trường thọ Nhật Bản yêu thích qua nhiều thế hệ và cũng có thể tìm mua ngay tại Việt Nam.
Đây là dấu hiệu cho thấy bạn đang uống quá nhiều nước
Uống đủ nước tốt cho sức khỏe nhưng nếu bạn uống quá nhiều thì nó sẽ phản tác dụng. Vậy làm sao để biết bạn có uống quá nhiều nước hay không?
Ăn ngồi bệt trên sàn hay ngồi ghế tốt hơn? Lý giải thú vị từ chuyên gia
Nhiều người Việt thường có thói quen ăn ngồi bệt dưới chiếu hoặc trên sàn nhà. Cách ăn này liệu có tốt cho sức khoẻ không? Dưới đây là lý giải của chuyên gia.
Mối liên hệ bất ngờ giữa chuối và huyết áp cao
Hãy cùng khám phá sức mạnh bí mật của loại trái cây thơm ngon này trong việc duy trì một trái tim khỏe mạnh bằng cách hạ huyết áp.
Nghiên cứu từ Úc: Ngủ kiểu này chẳng khác nào tự hại mình, làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ tới 53%
Các nhà nghiên cứu đã theo dõi sức khỏe của 88.094 người trong trung bình 7 năm và đi đến kết luận này.

